| Trong
điều kiện giá cả vật tư ngày càng cao, để sản xuất
vụ Hè Thu có hiệu quả, Chi cục BVTV xin giới thiệu
kỹ thuật bón phân tiết kiệm và hiệu quả cho lúa ngắn ngày vụ Hè Thu như sau:
TÁC
DỤNG VÀ KỸ THUẬT SỬ DỤNG CỦA TỪNG LOẠI PHÂN ĐỐI
VỚI CÂY LÚA
Phân
hữu cơ
Nguồn
phân hữu cơ có từ xác bã thực vật và phân gia súc,
cần ủ hoai trước khi dùng để diệt hạt cỏ dại và
mầm bệnh.
Tác
dụng phân hữu cơ là tăng độ phì nhiêu và làm xốp
đất, giữ phân hoá học để cung cấp dần cho cây, giúp
bộ rễ phát triển tốt.
Phân
đạm
Cây
lúa cần một lượng đạm trong thời kỳ đầu (khoảng
40 ngày kể từ sau sạ) để tạo số bông tối đa, trong
thời kỳ làm đòng để tăng số hạt chắc và trong thời
kỳ trổ cho hạt mẩy đều.
Thiếu
đạm làm cho lúa trở nên vàng đến xanh nhạt, cây
lùn lại và thẳng đứng kém nở bụi, mau già cỗi, lá
hẹp và vàng rụi, ít chồi, bông ngắn.
Thừa
đạm cây ra nhiều lá, lúa lốp làm cho cây lúa dễ
đổ ngã; kéo dài thời gian sinh trưởng, trổ chậm,
nhiều cỏ dại và nhiễm sâu bệnh (bệnh khô vằn, bệnh
đạo ôn, rầy, cào cào, muỗi hành và sâu đục thân)
cũng dẫn đến giảm năng suất lúa.
Các
loại phân đạm
-
Đất lúa cao sản bị ngập nước thường xuyên nên các
loại phân có gốc Nitrat bón xuống lúa ngập nước
là không thích hợp, vì dễ bị mất đạm do quá trình
phản nitrát hoá.
-
Đất phèn bị ngộ độc sunfát nên tránh sử dụng phân
có gốc S04-.
-
Đất mặn tránh dùng phân có gốc Cl.
-
Đất kiềm đạm rất dễ bay hơi, nên hạn chế dùng phân
Ure cho chân đất này.
Kỹ
thuật bón phân đạm
-
Bón phân đầy đủ và cân đối tuỳ theo giống lúa điều
kiện đất đai, mùa vụ của từng vùng. Có thể áp dụng
phương pháp bón phân theo màu lá lúa dựa vào bảng
so màu lá lúa hoặc bón phân theo cách “Nặng đầu
nhẹ cuối”, nghĩa là tập trung bón vào các giai đoạn
đầu, đặc biệt là lúc nẩy chồi để có nhiều bông và
lúc làm đòng để có thể có nhiều hạt trên bông.
-
Bón đạm cho lúa trồng trên đất thịt thường chỉ 2
- 3 lần nhưng trên đất nhẹ, đất bạc màu phải bón
4-5 lần thì hiệu quả mới cao.
-
Đối với lúa cao sản ngắn ngày cần bón đạm
Thời
kỳ lúa trổ nếu thấy lúa xấu cần bổ sung thêm đạm
để tăng số hạt chắc và giúp cho hạt mẩy đều.
Nếu
thấy lúa tốt, nên ngưng bón đạm sau khi trổ để tránh
lãng phí đạm và hạn chế sâu bệnh phát triển.
Phân
lân
Chất
lân là thành phần chính của nhân tế bào, giúp cây
lúa có bộ rễ phát triển mạnh và còn có có tác dụng
cải tạo chất phèn.
Tác
dụng của Lân
-
Giúp cho cây tăng trưởng nhanh nhờ đâm rễ nhiều,
hút được nhiều chất dinh dưỡng để nuôi cây.
-
Thúc đẩy quá trình trổ và chín tập trung và chín
sớm.
-
Tăng cường nẩy chồi mạnh, giúp cây phục hồi nhanh
sau khi gặp những điều kiện bất lợi.
-
Giúp cây hấp thụ phân đạm tốt hơn. Ngoài ra lân
còn giúp cho cây lúa phát triển tốt ở đất phèn nên
đất phèn rất cần phân lân.
-
Lá lúa thiếu lân thường có màu xanh đậm, mọc thẳng
hơn lá bình thường. Có những giống lúa thiếu lân,
thì lá già trở nên màu vàng cam hoặc hơi tím rồi
chết.
-
Sự thiếu lân thường xảy ra trên đất chua, đất nhiễm
phèn, đất than bùn và đất kiềm. Các loại phân lân
-
Phân lân DAP có hiệu lực nhanh nhưng lưu tồn rất
thấp.
-
Phân lân nung chảy hay phân apatit hiệu lục chậm
nhưng lưu tồn có thể kéo dài tới 2-3 vụ.
Kỹ
thuật bón phân lân
-
Khắc phục hiện tượng thiếu lân bằng cách bón các
loại phân có hàm lượng lân dễ tiêu như DAP (18:46:0)
hay NPK (16-16-8).
-
Bón lót lân để ém phèn ngay từ đầu và cung cấp lân
cho cây lúa hè thu phát triển tốt hoặc bón hết lượng
phân vào đợt 1 và đợt 2: Đợt 1 bón vào giai đoạn
bén rễ, khoảng 10 ngày sau sạ. Đợt 2 bón vào thời
kỳ nẩy chồi, khoảng 22-25 ngày sau sạ.
-
Đất phù sa bón ít hơn đất phèn; vụ đông xuân bón
ít hơn vụ hè thu. Lượng bón từ 100 - 400kg/ha tùy
độ phèn của đất.
Phân
kali
Kali
rất cần cho lúa cao sản thâm canh, kali có tác dụng
hạn chế thiệt hại do sâu bệnh, đổ ngã và giúp cây
hút các chất dinh dưỡng được tốt hơn.
Tác
dụng của kali
-
Tăng kích thước hạt và trọng lượng của hạt, tăng
phẩm chất gạo.
-
Giúp cây cứng cáp hơn, chống đổ lốp, chịu hạn và
chống chịu sâu bệnh.
-
Thiếu kali làm lá khô dần từ đọt vào, cây sinh trưởng
còi cọc, hạn chế nảy chồi. Cây lùn, lá xòe và lá
có màu xanh đậm. Những lá phía dưới vàng mép, bắt
đầu từ đọt vào và khô dần, sau đó chuyển sang màu
nâu nhạt. Đôi khi xuất hiện nhiều đốm nâu trên các
lá cờ có màu xanh đậm. Bông dài ốm yếu và hạt lúa
sẽ nhỏ hơn bình thường.
Kỹ
thuật bón phân kali
-
Bón kali ở liều lượng thấp (30 kg K20/ha)
thì hiệu lực thể hiện khô rõ, vì bón ở lượng này,
trong vòng 1-2 tuần lễ đất sẽ giữ kali lai hết,
cây không thể cạnh tranh lại được.
-
Phải bón với lượng (>100 kg K20/ha) mới
có tác dụng.
-
Bón nhiều kali quá đôi khi không đôi khi không có
hiệu quả kinh tế, cho nên cần phối hợp bón kali
qua lá ở giai đoạn cuối, để giảm lượng phân kali
đầu tư mới cho hiệu quả cao.
Loại
phân và lượng phân bón cho 1 ha lúa vụ Hè Thu năm
2008
Tùy
theo giống lúa, chân đất, mùa vụ, chế độ nước trong
ruộng, tình hình sâu bệnh, cỏ dại,…có thể tăng giảm
lượng phân cho phù hợp.
Sử
dụng phân đơn (Ure, Superlân, KCl) kg/ha
-
Trước sạ: Bón lót phân hữu cơ + 100- 400kg super
lân.
-
Bón thúc lần 1 (8-10 ngày sau sạ ): 50kg urê.
-
Bón thúc lần 2 (18-20 ngày sau sạ): 60kg urê.
-
Bón thúc lần 3 (35 ngày sau sạ: Sử dụng bảng so
màu lá lúa và áp dụng kỹ thuật không ngày, không
số: lúa vàng tranh: 50kg urê + 50kg kali/ha, lúa
xanh đậm: 100kg kali/ha, lúa xanh lợt: 25kg urê
+ 75 kg kali/ha.
Sử
dụng phân hỗn hợp (NPK 20-10-10, NPK 16-16-8)
- Trước sạ: Bón lót phân hữu cơ + 100- 200 kg super
lân.
-
Thúc lần 1 (8-10 ngày sau sạ): 120kg NPK (20-10-10)
hoặc 150 kg NPK (16-16-8).
-
Thúc lần 2 (18-20 ngày sau sạ): 140kg NPK (20-10-10)
hoặc 170 kg NPK (16-16-8).
-
Thúc lần 3 (bón đón đòng 35 - 40 ngày sau sạ): 50
kg urê.
Một
số điều cần lưu ý khi bón phân
-
Phân DAP giá đang quá cao, nên thay thế bằng phân
lân + urê (3 bao phân lân + 20 kg urê = 1 bao DAP)
và tăng phun xịt phân bón lá là giải pháp có hiệu
quả cao trong tình hình hiện nay.
-
Nên bón phân đợt 1 sớm từ 7 - 10 ngày sau sạ (NSS)
và bón nhiều lân, nhiều đạm vì cây lúa Hè Thu mọc
trong điều kiện còn gốc rạ của lúa Đông Xuân, trời
nắng nóng, dễ bị xì phèn, dễ bị ngộ độc hữu cơ là
rất cần bón nặng đầu để giúp cây lúa ra rễ, đẻ nhánh
thuận lợi để đạt năng suất cao vụ Hè Thu.
Bón
trễ (đợt 1) làm cho cây lúa ngay từ đầu rất cần
lân mà không có đã ảnh hưởng đến sự phát triển bộ
rễ, khó có thể cho năng suất cao về sau. Bón trễ
(đợt 2) làm cây lúa xanh lâu (do còn phân) ảnh hưởng
lớn đến quá trình chuyển sang làm đòng của cây lúa
(quy luật 2 xanh, 2 vàng) và cây lúa sẽ sinh nhiều
chồi vô hiệu về sau, là nơi phát sinh nhiều sâu
bệnh.
-
Giữ mực nước ruộng hợp lý khi bón phân
+
Giữ mực nước ruộng 2-3 cm khi bón phân và không
cho nước ra vô ruộng trong thời gian ít nhất 3 ngày.
+
Mực nước quá sâu: đạm hoà tan trong nước nhiều dễ
bốc hơi, đạm bị pha loãng đi, rễ cây ít do thiếu
ánh sang nên khi lượng đạm vào cây ít.
+
Ruộng bị khô hạn: đạm bị bốc hơi rất nhiều theo
các kẻ đất nứt, rễ cây phát triển kém do thiếu nước
- lượng đạm vào cây ít.
-
Không bón phân khi lá lúa còn ướt
+
Hạt phân dính trên lá có thể gây cháy lá.
+
Phân đạm hào tan vào nước dính trên lá sẽ bị bốc
hơi mất.
-
Không rải phân khi trời sắp mưa, phân có thể rửa
trôi mất.
-
Cần bón phân cân đối N-P-K; tránh bón nhiều N, thiếu
P và K, cây lúa bị lốp, đổ, nhiều sâu, bệnh.
-
Ruộng lúa Hè Thu dễ bị xì phèn, cần tăng cường bón
vôi.
-
Giữ ruộng sạch cỏ vì cỏ cạnh tranh phân với lúa
vào tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển nên cần
làm sạch cỏ trước khi bón phân./. |