Xây dựng và phát triển mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ hạt giống xác nhận 1 của một số giống lúa ngắn ngày, chất lượng cao tại các tỉnh miền Trung

(Mard-16/5/2017): Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, trong đó định hướng đối với khu vực miền Trung nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó, chuyển dịch cơ cấu giống lúa, giữ vững diện tích sản xuất lúa, đảm bảo an ninh lương thực thì cần phải có những bộ giống lúa tốt, ngắn ngày, chất lượng cao để né tránh thiên tai hạn hán và lũ lụt, đảm bảo ổn định năng suất, chất lượng và sản lượng lúa. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt dự án khuyến nông trung ương:“Xây dựng và phát triển mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ hạt giống xác nhận 1 của một số giống lúa ngắn ngày, chất lượng cao tại các tỉnh miền Trung” tại Quyết định số 516/QĐ-BNN-KHCN ngày 09/02/2015 để thực hiện từ năm 2015-2017. Dự án đã triển khai đạt hiệu quả cao tại 06 tỉnh miền Trung.

Mục tiêu của Dự án nhằm xây dựng và phát triển mô hình liên kết giữa các nhóm nông dân trong nông hộ, nhóm nông hộ với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hạt giống xác nhận 1 của một số giống lúa ngắn ngày, chất lượng cao nhằm nâng diện tích sử dụng hạt giống xác nhận trong sản xuất đại trà, góp phần tăng năng suất, hiệu quả sản xuất lúa tại các tỉnh miền Trung; Nâng cao kỹ năng sản xuất hạt giống, nhận thức về sử dụng giống lúa xác nhận. Mô hình có khả năng chuyển giao và nhân rộng ra sản xuất.
1. Xây dựng mô hình
Dự án triển khai tại 06 tỉnh miền Trung, bao gồm: Thừa Thiên Huế, TP Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
Tổng quy mô đạt 270 ha / 268,5 ha, đạt 100,6 % kế hoạch.
Sản xuất hạt giống xác nhận 1 của các giống: Thiên ưu 8, BT7, HT1, VN121, BC15, OM4900, TBR-225, ML48, ĐV108. Trong đó giống HT1 có tổng diện tích lớn nhất đạt 55 ha chiếm 20,4%. Trong đó:
* Vụ Đông Xuân 2015 – 2016:
- Quy mô: 230 ha gồm các giống lúa: Thiên ưu 8, BT7, HT1, OM4900, BC15, TBR-225, ML48, ĐV108.
- Năng suất bình quân đạt: 5,2 – 8,0 tấn /ha tùy từng giống lúa, tăng vượt so với yêu cầu của dự án (5,0 tấn/ha) từ 4 – 60%. Giống Thiên ưu 8 có NS cao nhất 8,0 tấn /ha, các giống có NS khá như Giống TBR-225 tại Bình Định đạt 6,7 tấn/ha; ĐV108 tại Phú Yên đạt 7,3 tấn/ha; Giống có NS thấp nhất là VN121 tại Quảng Ngãi và OM4900 tại Quảng Nam đạt 5,2 tấn/ha.
- Tổng sản lượng thu mua được đạt: 1.265,9 tấn.
* Vụ Hè Thu 2016:
R5- Quy mô: 40 ha gồm các giống lúa: HT1, VN121.
- Năng suất bình quân đạt: 6,0 – 6,1 tấn /ha tùy từng giống lúa, tăng vượt so với yêu cầu của dự án (5,0 tấn/ha) từ 20 – 22%.
- Tổng sản lượng đã thu mua đạt: 226,3 tấn.
Tổng sản lượng cả năm 2016 đã mua được: 1.492,2 vượt 152,2 tấn (tương đương vượt 11,4%).
* Xây dựng được 11 tổ liên kết sản xuất và tiêu thụ hạt giống tại 11 điểm mô hình, với 2.250 hộ tham gia.
2. Năng suất, sản lượng, chất lượng giống
* Năng suất: Điều kiện thời tiết khí hậu tại các tỉnh Duyên hải miền Trung trong vụ Đông xuân 2015 – 2016 tuy có những bất lợi, hạn hán cục bộ song nhìn chung tương đối thuận lợi cho sản xuất lúa và các biện pháp kỹ thuật nên năng suất lúa giống tại các địa phương tương đối ổn định, đạt từ 5,6 – 7,5 tấn/ha (tùy theo giống).
- Các giống có năng suất cao như Thiên ưu 8 tại Đà Nẵng bình quân đạt 80 tạ/ha;  TBR225 tại Bình Định bình quân đạt 67 tạ/ha; Giống ML48 và giống ĐV108 tại Phú Yên bình quân năng suất đạt 68,7 tạ/ha và 72,6 tạ/ha.
- Các giống có năng suất thấp như VN121 sản xuất tại Quảng Ngãi năng suất bình quân đạt 52,1 tạ/ha; Giống OM4900 tại Quảng Nam đạt 52 tạ/ha; Giống BT7 tại Thừa Thiên Huế trung bình đạt khoảng 56,0 tạ/ha.
- Vụ Hè thu thời tiết thuận lợi hơn, năng suất các giống đều khá hơn: VN121 tại Quảng Ngãi đạt 61,12 tạ/ha; giống HT1 tại Thừa Thiên Huế bình quân đạt 60 tạ/ha.
Nhìn chung, năng suất lúa vụ Đông xuân 2015 – 2016 thấp hơn so với vụ đông xuân 2014 – 2015. Tại Quảng Ngãi bệnh đạo ôn phát triển trên diện rộng đã ảnh hưởng chung đến năng suất lúa của toàn tỉnh (giảm từ 3 – 5 tạ/ha so với năm 2015).
- Sản lượng giống: Với năng suất giống bình quân như trên, sản lượng hạt giống XN1 của dự án do các đơn vị sản xuất ra năm 2016 đạt khoảng 1.725 tấn tăng vượt 375 tấn so với yêu cầu của dự án (tương đương vượt 28,7%).
- Chất lượng giống: Các đơn vị đã thực hiện tốt các khâu kỹ thuật về cách ly đồng ruộng, khử lẫn đồng ruộng nên ruộng giống trước khi thu hoạch qua kiểm định 100% đều đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định.
Các lô giống sau khi đơn vị thu mua về sấy, chế biến đều được kiểm định theo đúng quy định. Các lô hạt giống đều được lấy mẫu để kiểm nghiệm trong phòng, kết quả đều đạt tiêu chuẩn chất lượng hạt giống xác nhận 1 (QCVN 01-54:2011/BNNPTNT).
3. Hiệu quả của dự án
- Nhờ áp dụng các giải pháp kỹ thuật đồng bộ, phòng trừ sâu bệnh hại có hiệu quả, tuân thủ quy trình kỹ thuật trong việc thực hiện mô hình nên năng suất của mô hình có cao hơn năng suất đại trà.
- Với sản lượng 1.492 tấn giống XN1, dự kiến gieo cấy được khoảng 15.000 ha sản xuất lúa đại trà. Ước năng suất bình quân 6,0 tạ/ha, sẽ có tổng sản lượng thóc đạt khoảng 90.000 tấn.
- Theo đánh giá của các địa phương, dự án triển khai đã góp phần đưa nhanh các giống lúa ngắn ngày, chất lượng cao vào sản xuất của các tỉnh miền Trung nhằm né tránh thiên tai, ổn định diện tích sản xuất lúa.
- Thông qua mô hình từng bước nâng cao kỹ năng sản xuất giống cho các hợp tác xã, cá nhân tiến tới hình thành các HTX chuyên sản xuất giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của địa phương và xã hội. Xây dựng các mô hình liên kết bền vững trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo. Giúp các địa phương tăng cường sản xuất giống tại chỗ góp phần hạ giá thành sản phẩm hạt giống, tạo điều kiện để người sản xuất có thể tiếp cận được với hạt giống tốt.
- Nâng cao nhận thức của người nông dân về sử dụng giống có phẩm cấp trong sản xuất đại trà.
 

Hà Văn Biên
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

 
Thống kê truy cập