Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Ngày 05/08/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 84/NQ-CP phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025.



Theo đó, mục tiêu tổng quát của Chương trình là phát triển lâm nghiệp thực sự trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, liên kết theo chuỗi từ phát triển rừng, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích rừng và diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp; phát huy tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng để góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người dân gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động tiêu cực do thiên tai, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh.

Mục tiêu cụ thể là: a) Bảo vệ và phát triển bền vững đối với toàn bộ diện tích rừng hiện có và diện tích rừng được tạo mới trong giai đoạn 2021 - 2025; quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc khoảng 42%; tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng rừng, đáp ứng yêu cầu về cung cấp nguyên liệu cho sản xuất và tiêu dùng, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động tiêu cực do thiên tai, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; b) Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 5,0 - 5,5%/năm. Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt khoảng 20 tỷ USD vào năm 2025, trong đó giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đạt trên 1,5 tỷ USD, tăng tỷ trọng chế biến sâu và xuất khẩu các sản phẩm gỗ và lâm sản có giá trị gia tăng cao; c) Góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người làm nghề rừng. Đến năm 2025, giá trị thu nhập từ rừng trồng là rừng sản xuất tăng bình quân khoảng 1,5 lần/đơn vị diện tích so với năm 2020.

Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết đã đưa ra các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

  1. Về bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng: Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có đặc biệt là đối với diện tích rừng tự nhiên; đảm bảo cơ cấu 3 loại rừng hợp lý (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất); thực hiện hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; 100% diện tích rừng của các ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ và các chủ rừng là tổ chức thuộc các thành phần kinh tế được quản lý hiệu quả, bền vững; Thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng (vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài và sinh cảnh...), các khu rừng có tính đa dạng sinh học cao.
  2. Phát triển rừng và nâng cao năng suất, chất lượng rừng: a) Đối với rừng trồng, trồng rừng tập trung: 230 nghìn ha/năm, gồm: 4 nghìn - 6 nghìn ha/năm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng ven biển; 225 nghìn ha/năm rừng sản xuất (trồng mới 10 nghìn ha/năm, trồng tái canh 215 nghìn ha/năm), trong đó 30% diện tích là trồng rừng gỗ lớn, thâm canh. Nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng; đến năm 2025, năng suất rừng trồng đạt bình quân 20 m3/ha/năm, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng trong nước (gỗ rừng trồng tập trung, cây trồng phân tán....), đáp ứng khoảng 80% nguyên liệu cho sản xuất, chế biến; b) Đối với rừng tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung: bình quân 100 nghìn ha/năm, trong đó, chủ yếu là khoanh nuôi chuyển tiếp. Thực hiện hiệu quả các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để nuôi dưỡng, làm giàu rừng tự nhiên; c) Phát triển lâm sản ngoài gỗ: đến năm 2025, diện tích cây lâm sản ngoài gỗ đạt 700 - 800 nghìn ha.
  3. Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đối với rừng sản xuất là rừng trồng: Tổ chức quản lý, khai thác hiệu quả, bền vững đối với 100% diện tích rừng sản xuất là rừng trồng, trong đó diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững tăng tối thiểu có 500 nghìn ha so với năm 2020.

Ngoài ra còn có các nội dung ưu tiên như bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng ven biển; Phát triển giống cây lâm nghiệp, trồng rừng gỗ lớn; Phát triển lâm sản ngoài gỗ; Phát triển công nghiệp chế biến lâm sản.

Tổng mức vốn thực hiện Chương trình dự kiến là 78.850 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách Nhà nước 13.720 tỷ đồng, chiếm 17,4% và các nguồn vốn hợp pháp khác 65.130 tỷ đồng, chiếm 82,6%.

Nghị quyết cũng đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện Chương trình, bao gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; quản lý quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp; kiện toàn, đổi mới tổ chức sản xuất; khoa học, công nghệ và khuyến lâm; phát triển nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế và xúc tiến thương mại; huy động các nguồn vốn…

Về tổ chức thực hiện, đối với Bộ Nông nghiệp và PTNT, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt theo quy định của Luật Đầu tư công, hoàn thành trước 31/12/2021; phê duyệt và tổ chức thực hiện các dự án thành phần do Bộ trực tiếp quản lý ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Báo cáo khả thi Chương trình; Khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định về chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, chế biến và thương mại lâm sản trong lâm nghiệp; hoàn thành công tác lập, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và các cơ quan liên quan điều hành, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Chương trình, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật; Chủ trì tổ chức kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình; định kỳ hằng năm (hoặc đột xuất) tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá 5 năm kết quả thực hiện Chương trình; Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổng hợp, đánh giá, đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên là rừng sản xuất trong thời gian đóng cửa rừng theo quy định tại Điều 32 Luật Lâm nghiệp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/12/2021; Chủ trì và phối hợp với các bộ ngành có liên quan sửa đổi bổ sung, xây dựng mới các chính sách trình cấp có thẩm quyền ban hành, bảo đảm cho việc thực hiện Chương trình; Phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính tổng hợp nguồn vốn thực hiện Chương trình./

T.Hiền (tổng hợp)



29852