Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Một nghiên cứu mới trên tạp chí hàng đầu thế giới Science phát hiện có đến 90 - 99% tỉ lệ phá rừng ở vùng nhiệt đới là do hoạt động sản xuất nông nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy. Tuy nhiên, chỉ 1/2 đến 2/3 trong số này dẫn đến việc mở rộng sản xuất nông nghiệp trên đất bị phá rừng.



Nghiên cứu là sự hợp tác giữa nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới về phá rừng và cung cấp một tổng hợp mới về mối liên hệ phức tạp giữa mất rừng và nông nghiệp và điều này có ý nghĩa như thế nào đối với những nỗ lực hiện nay nhằm giảm thiểu mất rừng.

Sau khi xem xét các dữ liệu tốt nhất hiện có, nghiên cứu mới cho thấy nạn phá rừng nhiệt đới do hoạt động nông nghiệp gây ra cao hơn 80%, con số được trích dẫn phổ biến nhất trong thập kỷ qua.

Phát hiện này xuất hiện vào thời điểm quan trọng sau Tuyên bố Glasgow về Rừng tại COP26 và trước Hội nghị Đa dạng Sinh học của Liên hợp quốc (COP15) vào cuối năm nay và có thể giúp đảm bảo rằng các nỗ lực khẩn cấp để giải quyết nạn phá rừng được hướng dẫn và đánh giá bởi một cơ sở bằng chứng phù hợp với mục đích.

Thực tế là nông nghiệp là động lực chính của nạn phá rừng nhiệt đới không phải thông tin mới. Tuy nhiên, các ước tính trước đây về diện tích tích rừng đã được chuyển đổi thành đất nông nghiệp trên khắp các vùng nhiệt đới rất khác nhau, từ 4,3 - 9,6 triệu ha mỗi năm từ năm 2011 đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu thu hẹp phạm vi này xuống còn 6,4 - 8,8 triệu ha mỗi năm và giúp giải thích sự không chắc chắn trong các con số.

Hiểu được tầm quan trọng của những động lực này là chìa khóa cho các nhà hoạch định chính sách - cho dù là ở các thị trường tiêu dùng, chẳng hạn như luật thẩm định được đề xuất gần đây của Liên minh Châu Âu đối với “các sản phẩm không mất rừng”, các sáng kiến ​​của khu vực tư nhân đối với các mặt hàng cụ thể hay đối với chính sách phát triển nông thôn ở các nước sản xuất.

Nghiên cứu chỉ rõ một số ít hàng hóa là nguyên nhân gây ra phần lớn nạn phá rừng liên quan đến việc tích cực sản xuất đất nông nghiệp - hơn một nửa trong số đó liên quan đến đồng cỏ, đậu tương và dầu cọ. Nhưng nó cũng chỉ ra những thiếu sót của các sáng kiến ​​theo ngành cụ thể là hạn chế về khả năng đối phó với các tác động gián tiếp.

Các phát hiện của nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của các can thiệp vào chuỗi cung ứng ngoài việc tập trung vào các mặt hàng cụ thể và quản lý rủi ro, để giúp thúc đẩy quan hệ đối tác thực sự giữa nhà sản xuất và thị trường tiêu dùng và chính phủ. Điều này cần bao gồm các biện pháp dựa trên khuyến khích mạnh mẽ để làm cho nông nghiệp bền vững trở nên hấp dẫn về mặt kinh tế, đồng thời hạn chế việc chuyển đổi thêm các thảm thực vật bản địa và hỗ trợ các nông hộ nhỏ dễ bị tổn thương nhất. Các tác giả cho rằng điều này nên tập trung mạnh hơn vào thị trường nội địa, thường là động lực lớn nhất của nhu cầu đối với nhiều mặt hàng, bao gồm thịt bò, và tăng cường quan hệ đối tác giữa các công ty, chính phủ và xã hội dân sự trong các khu vực pháp lý của nhà sản xuất.

Bất chấp những bất ổn còn tồn tại, nghiên cứu nhấn mạnh rằng cần phải có những nỗ lực thay đổi từng bước để giải quyết và kiềm chế hiệu quả nạn phá rừng cũng như chuyển đổi các hệ sinh thái khác và thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững. Tuyên bố Glasgow về Rừng đã công nhận tầm quan trọng của việc cùng nhau giải quyết các cuộc khủng hoảng về khí hậu và mất đa dạng sinh học, đồng thời đặt ra một cấp độ tham vọng mới trong việc giải quyết nạn phá rừng và thúc đẩy nông nghiệp bền vững. Các tác giả của nghiên cứu mới này nói rằng điều tối quan trọng là chúng ta bắt đầu thấy từng quốc gia và các nhà hoạch định chính sách ưu tiên thực hiện tham vọng này./.

MH (Theo Eurekalert)



31135